BỒ CÔNG ANH

Bồ Công Anh khô : 150.000/kg

Bồ Công Anh tươi : 100.000/kg

đại lý hoặc công ty mua số lượng lớn liên hệ trực tiếp để có giá tốt

Để mua hàng và được hưỡng dẫn cách mua hàng Quý khách có thể Gọi :

– 0962 146 885 ( với khách toàn quốc )

– 0988.973.515 ( với khách ở Hà Nội ) 
– 0988973515 (với khách ở Bắc Ninh)
– 0962 146 885 (với khách ở Thành phố Hồ Chí Minh)
——————-+—-+————–

hoặc kick vào đây : Hưỡng dẫn mua hàng

Công Dụng Bồ Công Anh

bồ công anh

Bồ công anh còn có tên là rau bồ cóc, diếp dại, mũi mác, rau bao; thường mọc hoang ở nhiều nơi.

Theo y học cổ truyền, bồ công anh vị đắng ngọt, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng,

hỗ trợ trị các bệnh mụn nhọt, lở loét, viêm dạ dày – tá tràng, viêm gan, viêm họng..

Một số bài thuốc nam thường dùng trong dân gian:

– Mắt đau sưng đỏ: Bồ công anh 40 g, dành dành 12 g. Sắc uống ngày một thang.

– Viêm tuyến vú, tắc tia sữa: Bồ công anh 30-50 g tươi, giã nát vắt lấy nước cốt uống, bã đắp lên vú.

– Mụn nhọt: Bồ công anh 40 g, bèo cái 50 g, sài đất 20 g. Sắc uống ngày một thang.

– Viêm họng: Bồ công anh 40 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo nam 10 g. Sắc uống ngày một thang.

– Viêm loét dạ dày, tá tràng: Bồ công anh 40 g, lá khôi, nghệ vàng 20 g, mai mực 10 g, cam thảo 5 g.

Sắc uống ngày một thang.

Bài thuốc tham khảo:

 1) Bồ công anh có hoa nở vàng, vị ngọt, giải được các độc do ăn phải, tán được khí trệ, Nhập vào kinh Dương minh, Thái âm, hóa giải được nhiệt độc, tiêu sưng hạch rất đặc hiệu. Sắc chung với Nhẫn đông đằng uống với 1 chút rượu để trị nhũ ung, sau khi uống mà muốn ngủ là có công hiệu, khi ngủ ra mồ hôi là lành bệnh (Đan Khê Tâm Pháp).

2) Nước nhựa của Bồ công anh bôi vào chỗ nước đái của chồn đái là khỏi ngay (Tân Tu Bản Thảo Đồ Kinh).

 3) Bồ công anh có thể giải được các thức ăn bị độc, làm tiêu tan được trệ khí, hòa được nhiệt độc, làm tiêu tan được trệ khí, hòa được nhiệt độc tiêu chỗ sưng đau, kết hạch đinh nhọt rất hiệu quả (Bản Thảo Diễn Nghĩa).

 4) Dùng bồ công anh xát vào răng hỗ trợ trị được chứng đau răng, đen dược tóc, khỏe mạnh gân xương (Bản Thảo Cương Mục).

 5) Bồ công anh khí không có gì độc cả, khí vị nhập vào Can, Vị. Đó là vị thuốc chính trong việc giải huyết, làm mát huyết. Nhọt sưng vú thuộc Can kinh, phụ nữ sau khi hành kinh thì Can chủ sự nên nó làm chủ, người đàn bà bị nhũ ung sưng vú, các chứng ấy nên dùng lá tươi (Bản Thảo Kinh Sơ).

Theo sách cây thuốc và vị thuốc Việt Nam , cây bồ công anh đươc dung để chỉ ít nhất 3 loại 3 loại cây khác nhau đều có mọc ở nước ta, cần chú ý tránh nhầm lẫn:

– Cây Bồ công anh Việt Nam ( Lactuca indica , họ Cúc – Asteraceae), chữ Việt nam được tác giả thêm vào để tránh nhầm lẫn. Cây nay được dung phổ biến, nhất là tại phía Bắc và phía Bắc trung bộ.
– Cây Bồ công anh Trung Quốc ( Taraxacum officinalenWigg. Cũng họ Cúc – Asteraceae). Chữ Trung Quốc để chỉ rõ rằng tên Bồ công anh ghi trong sách Trung Quốc là cây này. Chúng mọc hoang và có trồng ở một vài nơi trong nước ta, nhất là các miền núi cao như Tam Đảo, Sa Pa. Tuy nhiên ta hầu như không dùng loại này.
– Cây chỉ thiên ( Elephantopusvscaber L, cũng họ Cúc – Asteraceae). Cây này ở miền Nam ta dùng với tên Bồ công anh và dùng như cây Bồ công anh Trung Quốc.

A.  Bồ công anh Việt Nam

Cây Bồ công anh Việt nam còn gọi là Bồ công anh, rau bồ cóc, diếp hoang, diếp dại, mũi mác, rau lưỡi cày.

1. Mô tả cây

bo cong anh viet nam
Bồ công anh Việt Nam

Là loại cây nhỏ, thường cao 0,6-1 m, đôi khi cao tới 3 m, thân mọc thẳng, nhẵn, không cành hoặc rất ít cành. Lá cây có nhiều hình dạng: lá phía dưới dài 30 cm, rộng 5-6 cm, gần như không có cuống, chia thành nhiều thùy hay răng cưa to, thô; lá trên ngắn hơn, không chia thùy, mép có răng cưa thưa. Nếu ta bấm vào lá và thân đều thấy tiết ra nhũ dịch màu trắng đục như sữa, vị hơi đắng. Hoa màu vàng, có loại màu tím, cả hai loại đều dùng làm thuốc được.

2.Phân bố, thu hái và chế biến

Bồ công anh mọc hoang tại nhiều tỉnh miền Bắc nước ta. Đây là loại cây rất dễ trồng bằng hạt, mùa trồng vào tháng 3-4 hoặc 9-10, cũng có thể trồng bằng mẩu gốc, sau 4 tháng là có thể thu hoạch được. Thường thì nhân dân ta hái lá về dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô để dùng dần, không cần chế biến gì đặc biệt.

3 Công dụng và liều dùng

Bồ công anh Việt Nam là một cây vị thuốc kinh nghiệm trong nhân dân để hỗ trợ trị bệnh sưng vú, tắc tia sữa, mụn nhọt đang sung mủ, hay bị mụn nhọt, ngoài ra còn dùng uống trong hỗ trợ trị bệnh đau dạ dày, ăn uống kém tiêu.
Liều dùng hàng ngày khoảng 20-40 g lá tươi hoặc 10-15 g lá khô (hay cành và lá khô). Ta có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác; thường dùng dưới dạng thuốc sắc có thêm đường cho dễ uống. Nếu dùng giã nát đắp ngoài thì không kể liều lượng.

4. Đơn thuốc có vị bồ công anh

– Trị sưng vú, tắc tia sữa: hái 20-40 g lá bồ công anh tươi, rửa sạch, thêm ít muối, giã nát, vắt lấy nước uống, còn bã dùng đắp lên nơi vú sưng đau. Thường chỉ dùng 2-3 lần là đỡ.
– Trị ăn uống kém tiêu, hay bị mụn nhọt: lá bồ công anh khô 10-15 g; nước 600 ml (khoảng 3 bát con); sắc còn 200 ml (1 bát) (có thể đun sôi kỹ và giữ sôi trong vòng 15 phút); uống liên tục trong vòng 3-5 ngày, có thể kéo dài hơn.
– Trị đau dạ dày: lá bồ công anh khô 20 g; lá khôi 15 g; lá khổ sâm 10 g; thêm 300 ml nước, đun sôi trong vòng 15 phút, thêm ít đường vào, rồi chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong vòng 10 ngày, sau đó nghỉ 3 ngày rồi uống tiếp cho đến khi khỏi.

B. Bồ công anh Trung Quốc

1. Mô tả cây

bo cong anh trung quoc

Cây thân thảo cao 20-45 cm.Thân rất ngắn, rễ mập, toàn cây có nhũ dịch trắng như sữa. Lá đơn, mọc chụm ở gốc thành hình hoa thị, phiến lá cắt thành nhiều thùy nhỏ như răng nhọn , từ giữa vòng lá mọc lên cuống cụm hoa màu vàng, khi già ra quả có lông màu trắng xếp thành hình cầu.

2. Phân bố

Cây bồ công anh Trung Quốc (Taraxacum officinale) có nguồn gốc từ đại lục Á-Âu, và ngày nay được trồng khắp Châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á), Bắc Mỹ, Nam Phi, Nam Mỹ, New Zealand, Australia, và Ấn Độ. Cây ưa sáng, khí hậu ẩm mát.
Ở Việt Nam, cây Bồ công anh Trung Quốc (Taraxacum officinale) chỉ sống được ở vùng có khí hậu lạnh như ở Đà Lạt và Sa Pa. Cây mọc tương đối tập trung thường có nhiệt độ trung bình dưới 200C, lượng mưa từ 1500 đến 2800 mm trong 1 năm. Cây mọc rải rác hoặc tập trung thành từng đám ở vườn, các bãi trống ven đường đi, trên nương rẫy hoặc chân đá vôi. Cây mọc từ hạt xuất hiện rải rác từ cuối mùa xuân đến cuối mùa hè. Mùa hoa quả cũng rải rác trong suốt mùa hè và đầu mùa thu. Sau khi ra hoa quả, cây tàn lụi. Hạt có túm lông nhờ gió phát tán đi khắp nơi. Vòng đời cây thường kéo dài 3-5 tháng.

3.Công dụng của cây Bồ công anh Trung Quốc

– Toàn cây Bồ công anh thấp hỗ trợ trị sưng vú, viêm tuyến vú, ít sữa, tiểu tiện khó, nhiễm khuẩn tiết niệu, mụn nhọt, sưng tấy, lở ngứa ngoài da. Ở Trung Quốc còn dùng hỗ trợ trị đau mắt, tiêu hoá kém, rắn cắn.
– Ở Pháp, Bồ công anh thấp hỗ trợ trị rất nhiều loại bệnh khác nhau như các bệnh gan mật (viêm ống mật mãn tính, viêm gan, xung huyết gan, suy gan, vàng da, sỏi mật); các bệnh đường tiêu hoá (rối loạn tiêu hoá, kém ăn, viêm ruột kết, táo bón, trĩ); Sỏi thận, tiểu tiện khó, suy thận, tăng cholesterol-huyết, xơ vữa động mạch, béo phì; các bệnh ngoài da (mụn nhọt, chảy máu mủ, mụn cóc, eczema, trứng cá, nấm); thấp khớp, thống phong, thiếu máu, suy nhược.
– Ở Bungari, cây còn dùng để hỗ trợ trị hen phế quản, thống kinh, mất kinh, xơ gan, loét dạ dày, phù, đái tháo đường, viêm bàng quang, bể thận.
3.1 Lá cây Bồ công anh Trung Quốc dùng làm rau
Đối với câybồ công anh Trung Quốc có thể làm rau ăn rất tốt (ăn sống hoặc nấu canh- vì bồ công anh Việt Nam có gai, khó ăn). Đây là loại rau được một số nước như Trung Quốc, Pháp, Mỹ rất ưa chuộng vì kích thích sự thèm ăn, có tác dụng lọc máu, lợi mật (như actisô); phòng một số bệnh về gan, mật.
– Ở Việt Nam lá Bồ công anh Trung Quốc mọc hoang ở Tây nguyên và Sapa được người dân tộc thiểu số dùng như một loại rau rừng để ăn sống và xào nấu.
– Ở Mỹ người bản địa dùng lá cây Bồ công anh làm rau và làm thuốc, trong khi người da trắng xem là loài thực vật xâm lấn khủng khiếp gây hại trên các sân cỏ thể thao của họ và phải tốn nhiều chi phí để hủy diệt.
– Ở Trung Quốc và nhiều nước Châu Á đều dùng lá Bồ công anh Trung Quốc như một loại rau sạch bổ dưỡng và nên thuốc.
3.2 Thân, lá và rễ cây Bồ công anh Trung Quốc được phơi, sấy khô dùng thay trà, cà phê
Ở nhiều nước Nam Mỹ dùng những bông hoa Bồ công anh để chế thành rượu vang, lá, thân và rể được phơi sấy khô đun nước uống thay trà hoặc xay nát thành bột để pha chung với cà phê.
3.3  Các bộ phận của cây Bồ công anh Trung Quốc dùng làm thuốc
Theo các Y điển của Trung Quốc, vị thuốc Bồ công anh còn gọi là Phù công anh (Thiên Kim Phương), Cấu nậu thảo,  Bộc công anh (Đồ Kinh Bản Thảo), Thái nại, Lục anh, Đại đinh thảo, Bột cô anh (Canh Tân Ngọc Sách), Bồ công định, Thiệu kim bảo, Bồ anh, Cổ đính, Thiệu kim bảo, Ba ba đinh, Địa đinh thảo, Bát tri nại, Bạch cổ đinh. Nhĩ bản thảo (Tục Danh), Kim trâm thảo, Kim cổ thảo, Hoàng hoa lang thảo, Mãn địa kim tiền, Bột Bột đinh thái (Hòa Hán Dược Khảo), Hoàng hoa địa đinh (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tính vị cây Bồ công anh:
+ Vị ngọt, tính bình, không độc (Tân Tu Bản Thảo).
+ Vị hơi đắng, tính hàn (Đông Viên Dược Tính Phú).
+ Vị ngọt, tính bình, hơi hàn (Bản Thảo Thuật).
+ Vị đắng, ngọt, tính hàn (Dược Tính Công Dụng).
+ Vị ngọt, đắng, tính hàn (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Qui kinh:
+ Vào kinh Can, Vị (Trấn Nam Bản Thảo).
+ Vào kinh Dương minh Vị và Thái âm Phế (Bản Thảo Giảng Nghĩa Bổ Di).
3.4 Cảnh báo độc hại
Phấn hoa bồ công anh có thể gây ra phản ứng dị ứng khi ăn, hoặc phản ứng da bất lợi ở những người nhạy cảm. Liên hệ đến viêm da sau khi xử lý cũng đã được báo cáo, có lẽ từ mủ cao su trong thân và lá.
Do độ kali cao, Bồ công anh cũng có thể làm tăng nguy cơ tăng kali máu khi dùng cùng với kali sparingdiuretics.
Việc tiêu thụ lá bồ công anh cũng đã được báo cáo liên quan đến sự xuất hiện của bệnh sán lá gan lớn.

4. Các bài thuốc từ cây Bồ công anh Trung Quốc

– Trị gai đâm hoặc bị nhằm nước đái của con cáo làm cho thịt sưng phù:
Bồ công anh gĩa nát lấy nước cốt bôi vào nhiều lần thì khỏi (Đồ Kinh phương).
– Trị sản hậu không cho con bú, sữa tích lại làm cho vú căng, sưng: 
Bồ công anh gĩa nát, đắp lên đó, ngày 3 đến 4 lần (Mai Sư phương).
– Làm cho răng cứng, mạnh gân xương, sinh được thận thủy, tuổi chưa đến 80 có tác dụng làm đen râu tóc, tuổi trẻ uống gìa không yếu: 
Bồ công anh 1 cân, loại này thường sống ở trong vườn, nó có vào giữa tháng 3  tháng 4, sang mùa thu thì nở hoa, khi ấy cắt cả gốc lá, thân cây, 1 cân rửa sạch đem phơi âm can, không được phơi nắng, bỏ vào thùng đậy kín. Lấy 40g  muối, 20g  Hương phụ tử, tán bột rồi cho Bồ công anh vào đó ngâm 1 đêm, hôm sau chia làm 20 nắm, rồi dùng giấy bao 3-4 lớp thật chặt. Lấy phân giun đất buộc thật chặt cho vào lò sấy khô, dùng lửa nướng cho hồng lên là đủ. Xong đem ra bỏ phân giun đất đi rồi tán nhỏ, cứ sức vào răng vào buổi sáng, tối, nhổ cũng được, nuốt cũng được, làm lâu mới hiệu nghiệm (Hoàn Thiếu Đơn  – Thụy Trúc Đường Kinh Nghiệm phương).
– Trị vú sưng đỏ:
 Bồ công anh 40g, Nhẫn đông đằng 80g, gĩa nát. Sắc với  2 chén nước còn 1 chén, uống trước bữa ăn (Tích Đức Đường phương).
-Trị cam sang, đinh nhọt: 
Bồ công anh gĩa nát, lấy riêng một ít vắt nước trộn rượu sắc uống cho ra mồ hôi (Chứng Loại Bản Thảo).
– Trị lở loét lâu ngày không khỏi, ong châm, rắn cắn, bọ cạp cắn:
 Bồ công anh gĩa nát,  đắp vào vết thương (Cấp Cứu phương).
– Trị tuyến sữa viêm cấp tính:
 Bồ công anh 32g, Qua lâu, Liên kiều mỗi thứ 20g, Bạch chỉ 12g, sắc uống. Bên ngoài dùng Bồ công anh tươi gĩa nát đắp (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
– Trị ung độc sưng tấy cấp tính:
 Bồ công anh 20g  đến 40g, sắc uống (Bồ Công Anh Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
– Trị đinh nhọt, sưng độc phát sốt, lở loét ngoài da, đỏ mắt do phong hỏa:
Bồ công anh 20g , Dã cúc hoa, Kim ngân hoa mỗi thứ 12g, Cam thảo sống 1,20g. Sắc uống.
– Trị viêm ruột thừa chưa vỡ mủ: 
Bồ công anh 12g, Tử hoa địa đinh 20g, Mã xỉ hiện 40g, Hoàng cầm, Đơn sâm mỗi thứ 12g  sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
– Trị kết mạc viêm cấp tính, mắt đỏ sưng đau (do Can hỏa bốc lên):
Bồ công anh (tươi) 80g , Chi tử 7 trái, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
– Trị đường tiểu viêm, bàng quang viêm, tiêu hóa kém, căng đau vùng dạ dầy:
Bồ công anh 40g, Quất bì 24g, Sa nhân 12g, Tán bột. Mỗi  lần uống 1-2g, ngày 3 lần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
– Trị các chứng sưng vú, thiếu sữa:
 Bồ công anh, Hạ khô thảo, Bối mẫu. Liên kiều, Bạch chỉ, Qua lâu căn, Quất diệp, Cam thảo, Đầu cấu, (gầu trên đầu). Hùng thử phẩn (phân chuột đực). Sơn đậu căn, Sơn từ cô, sắc uống làm viên tùy theo bệnh để làm quân, thần, tá, sứ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

© 2013 – 2016, admin. **Lưu ý: Tác dụng có thể thay đổi tùy theo tình trạng cơ địa của mỗi người.

Trong chuyên mục: Bồ công anh

Tham khảo thêm

2 Responses to “BỒ CÔNG ANH”

  1. March 4, 2014 at 3:42 pm #

    Tren VTV hom nay co dua tin o Trung Quoc co nguoi dung cay Bo Cong Anh ham nuoc soi uong hang ngay chua duoc benh polyp tui mat.

  2. Linh
    April 10, 2015 at 2:06 pm #

    Cho e hỏi rễ bồ công anh có chữa được ung thư phổi không ạ!

Bình luận bài viết

You might also likeclose