Hạ Khô Thảo

Hạ khô thảo : 220.000/kg

Để mua hàng và được hưỡng dẫn cách mua hàng Quý khách có thể Gọi :

– 0962 146 885 ( với khách toàn quốc )

– 0988.973.515 ( với khách ở Hà Nội ) 

– 0988973515 (với khách ở Bắc Ninh)
– 0988 317 823 (với khách ở Thành phố Hồ Chí Minh)
——————-+—-+————–

hoặc kick vào đây : Hưỡng dẫn mua hàng

hạ khô thảo

HẠ KHÔ THẢO – Tên tiếng anh: Brunella vulgans Lin.

 Tên khác: Tịch cú, Nãi đông (Bản Kinh), Yến diện (Biệt Lục), Thiết sắc thảo (Bản Thảo Cương Mục), Huyết kiến sầu, Trư thỉ thảo, Vân yến mật, Oanh hỉ mật, Cân cốt thảo, Tứ ngưu đấu thảo (Hòa Hán Dược Khảo), Bổng trụ đầu hoa (Trung Quốc Dược Dụng Thực Vật Chí), Bổng chuỳ thảo (Trung Dược Chí).

Tên gọi: Ngày xưa, người ta cho rằng cây này khô héo vào sau Hạ chí (mùa hè), vì vậy gọi là Hạ khô thảo, nhưng trên thực tế thì ở Việt Nam mùa hè cây vẫn tươi tốt.

Tên khoa học: Brunella vulgans Lin. (=  Prunella asiatica Nakai).

Họ khoa học:  Hoa Môi (Lamiacae).

Mô Tả : Loại cây thảo, sống nhiều năm, cao 20 – 30cm. Thân vuông, có màu hơi tía đỏ. Lá đơn, mọc đối, cuống dài.  Lá dài 2 – 5cm, rôïng 0,7 – 1cm, hình trứng hay hình mác dài, mép nguyên hoặc hơi có răng cưa Thân và lá đều có lông nhung. Cụm hoa xim  co mọc ở đầu cành trông giống như bông, gồm nhiễuvòng, mỗi vòng có 5-6 hoa. Hoa lưỡng tính, không đều, lá đài liền. Tràng hình môi, mầu tím xanh nhạt. Nhị 2 dài, 2 ngắn. Bầu có 4 ô, vòi nhỏ dài. Quả nhỏ, có 4 quả bế, đựng trong đài tồn tại. Mùa hạ nở hoa, cuối hè sang thu thì cây bắt đầu khô héo.

Địa lý : Cây mọc hoang ở Lào Cai, Hà Giang, Tam Đảo. Cũng còn được trồng ở Tnmg du.

Thu hái, Sơ chế: Trước đây phải nhập hạ khô thảo của Trung Quốc, hiện nay đã phát hiện và thu hái ở Sa Pa, Tam Đảo, Hà Tuyên vào tháng 4 – 6. Khi quả đã chín thì hái cành mang hoa và quả phơi hay sấy khô. Có khi người ta còn dùng cả phần ở trên mặt đất, thu về, phơi hay sấy khô dùng.

hạ khô thảo

Phần dùng làm thuốc: Hoa tự, quả (Flos Brunellae cum Fructu).

Mô tả dược liệu: cành mang lá và hoa khô. Cành vuông, màu nâu nhạt, có nhiều rãnh dọc. Lá mọc đối, nhăn nheo, hình bầu dục hay trái xoan. Toàn cây có những lông ngắn. Vị đắng, hơi the. Thông thường lúc dùng làm thuốc chỉ lấy toàn hoa mà không lấy cuống và cành. Hoa tự mọc ở đầu cành, màu nâu tía, khô, thơm, không sâu, mốc, mục nát là tốt. Nhưng theo quy cách mới hiện nay thì lại dùng cành có hoa, lá từ đầu hoa trở xuống dài khôâng quá 15cm, bỏ  gốc rễ, thứ bị mất bông hoa thì không dùng.

Bào chế: Thu hái về, phơi trong râm cho khô, cắt ngắn, dùng vào thuốc, không chế biến gì.

Bảo quản: Để nơi khô ráo, dễ hút ẩm, mốc biến thành mầu đen. Có thể phơi nhưng không nên quá nắng, dễ mất mùi thơm.

Thành phần hóa học: + Cành mang hoa và quả chứa chừng 3,5% muối vô cơ tan trong nước. Trong số muối vô cơ này , 68% là Kali Clorua. Ngoài ra, còn thấy một chất có tính chất Alcaloid. Hoạt chất khác chưa rõ (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam). + Ursolic acid  (Lee K H và cộng sự, Planta Med 1988, 54 (4) : 308). + Oleanolic acid, Daucosterol, b-Amyrin, Tetracosanic acid, Hexacosanic acid, Octacosanic acid, Triacintanic acid  (Hà Vân Khánh, Bắc Kinh Y Khoa Đại Học Học Báo 1985, 17 (4) : 297). + Myristic acid, Oleic acid, Linoleic acid, Palmitic acid, Stearic acid, Lauric acid (Jain M và cộng sự, J Inst Chem (India) 1984, 56 (3) : 123 (C A 1984, 101 : 147839t).

Tác dụng dược lý :

+ Tác dụng lợi tiểu: Cửu Bảo, Điền Tình Quang và Đảo Thanh Cát lấy các muối vô cơ trong nước sắc Hạ khô thảo, chế thành thuốc tiêm, tiêm vào tĩnh mạch thỏ, thấy huyết áp hạ xuống ngay, vận động hô hấp tăng lên, tác dụng lợi tiểu rõ như các muối Kali khác. Suy ra rằng sở dĩ Hạ khô thảo có tác dụng là do lượng muối Kali khá cao (Hoà Hán Dược Dụng Thực Vật 1940).

+ Tác dụng hạ áp: Các chất tan trong nước của Hạ khô thảo có tác dụng hạ áp lâu dài trên bệnh nhân và làm hết các triệu chứng khó chịu của bệnh cao huyết áp (Y Học Liên Xô 1981, 7 : 6).

+ Tác dụng kháng khuẩn: In vitro, thuốc có tác dụng ức chế loại trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn dung huyết (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

+ Tác dụng hỗ trợ chống ung thư: Qua nghiên cứu thực nghiệm trên ung thư cổ tử cung của chuột nhắt, bước đầu nhận xét thấy có tác dụng chống sự tăng trưởng của tế bào ung thư di căn (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

hạ khô thảo
 Hạ khô thảo.

Tính vị: + Vị đắng, cay, tính hàn (Bản Kinh). + Vị đắng, hơi cay, tính hơi hàn (Trấn Nam Bản Thảo). + Vị hơi đắng, hơi cay, tính phù mà thăng (Bản Thảo Chính). + Khả thăng khả giáng, là thuốc của phần huyết (Bản Thảo Hội Ngôn). + Vị đắng, cay, tính hàn (Trung Dược Học).

Quy kinh : . Vào kinh Can (Trấn Nam Bản Thảo). . Vào kinh túc Quyết âm, Thiếu dương (Bản Thảo Kinh Sơ). . Vào kinh Phế, Tỳ, Tâm (Bản Thảo Tân Biên). . Vào kinh Can, Đởm (Trung Dược Học).

Tác dụng : + Bổ dưỡng huyết mạch (Đan Khê Tâm Pháp). + Khứ Can phong, hành kinh lạc (Trấn Nam Bản Thảo) + Thanh Can, minh mục, tán kết, giải độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). + Thanh hỏa, tán kết, thanh Can, minh mục (Trung Dược Học).

Chủ trị : Trị Can dương vượng lên, đau đầu chóng mặt,  đỏ mắt, lở vùng đầu, lao hạch cổ.

Kiêng kỵ: + Kỵ sắt ( Y Học Quảng Bút Ký). + Uống lâu ngày sẽ bị lao thương (Ngoại Khoa Toàn Sinh Tập). + Âm hư, Vị nhiệt, không có uất kết cầm dùøng, ăn uống kém không dùng (Trung Dược Học).

Liều dùng : 9g – 30g.

 Hạ khô thảo

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị  băng huyết không cầm: Hạ khô thảo tán bột, mỗi lần uống 1 thìa cà phê với nước cơm (Thánh Huệ Phương).

+ Bổ Can, sáng mắt, mắt đau do Can hư, nước mắt sống hay chảy,  mắt mờ, sợ ánh sáng: Hạ khô thảo 15g, Phụ tử 30g, tán bột, mối lần uống 3g với nước trà (Giản Yếu Tế Chúng Phương).

+ Trị xích bạch đới: khi Hạ khô thảo ra hoa, hái về, phơi trong râm cho khô rồi tán bột, mỗi lần uống 6g với nước cơm, trước bữa ăn (Dư Thị Gia Truyền Phương).

+ Tri váng đầu, chóng mặt sau khi sinh, tâm khí muốn tuyệt: Hạkhô thảo tươi, giã nát, vắt lấy nước, uống môït chén lớn (Dư Thị Gia Truyền Phương).

+ Trị chấn thương do té ngã, bị đánh đập, đâm chém: Hạ khô thảo nhai nát, rịt vào nơi đau (Vệ Sinh Dị Giản Phương).

+ Trị  mồ hôi gây nên lang ben: Hạ khô thảo sắc lầy nước cốt rửa hàng ngày (Càn Khôn Sinh Ý).

+ Trị loa lịch, mã đao đã vỡ miệng hay chưa, hoặc lâu ngày thành rò: Hạ khô 180g, sắc với 2 chén nước còn 7 phân, uống nóng cách xa bữa ăn. Người suy nhược nấu thành cao uống, đồng thời bôi vào nơi đau, uống với Thập Toàn Đại Bổ Thang thêm Hương phụ, Bối mẫu, Viễn chí thì rất hay vì đó là những vi thuốc sinh huyết, là thánh dược để trị Loa lịch (Ngoại Khoa Kinh Nghiệm Phương).

+ Trị huyết áp cao: Ngưu tất, Long đởm thảo, Địa long, Hải tảo, Hạ khô thảo, các vị bằng nhau, nấu thành cao, ngày uống  2 lần, mỗi lần 1 muỗng canh. Hoặc chỉ dùng  Hạ khô thảo khô 30g,  sắc uống 2 lần trong ngày, lúc ăn. Liên tục 10 ngày, nghỉ 10 ngày rồi uống tiếp. Dùng 2 – 4 đợt, tùy bệnh nóng nhẹ để uống (Kinh Nghiệm Phương).

+ Trị hoả bốc lên đầu làm nhức đầu, chóng mặt,  mắt sưng đau, đỏ, huyết áp cao: Hạ khô thảo, Bồ công anh, Thảo quyết minh (sao), mỗi vi 15g, Cúc hoa, Tang diệp, Mè đen, mỗi thứ 9g. Sắc uống (Nghiệm Phương).

+ Trị tràng nhạc, mã đao, anh bệnh, vú sưng, viêm hạch, quai bị: Hạ khô thảo, Huyền sâm. Mỗi thứ 15g,  Xạ can, Nga truật, Hoàng đằng, mỗi thứ 4,5g. Sắc uống. Bên ngoài dùng nhân Phiên mộc miết (hạt gấc) mài với giấm bôi lên (Kinh Nghiệm Phương).

+ Tri lao hạch cồ (chưa phá miệng), sưng tuyến giáp đơn thuần:  Hạ khô thảo 30-60g, sắc uống, hoặc nấu thành  cao uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị loa lịch: Hạ khô thảo 9g, Cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang, liên tục 20 – 30 ngày (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Tri lao hạch, bạch huyết, viêm hạch lâm ba, viêm tuyến vú:  Hạ khô thảo 15g, Huyền sâm, Thổ bối mẫu đều 9g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị Can nhiệt, đau nhức trong tròng mắt, nhìn không rõ chảy nước mắt sống, đau dầu hoa mắt do can dương vượng lên: Hạ khô thảo 60g, Chích cam thảo 15g, Hương phụ tử (sao rượu) 60g. Tất cả tán bôït, mỗi lần uống 9g, ngày 3 lần với nước ( Hạ Khô Thảo Tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị viêm kết mạc: Hạ khô thảo, Bồ công anh đều 40g (dùng tươi), Tang diệp, Xa tiền thảo, Dã cúc hoa, mỗi thứ 9g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Trị đau đầu do áp huyết cao: Hạ khô thảo (tươi) 30-60g, sắc uống, hoặc dùng Hạ khô thảo, Hy thiêm thảo, Dã cúc hoa, mỗi thứ 30g. Sắc uống. Tri đau đầu do áp huyết cao.

+ Trị đau đầu, mắt đỏ do áp huyết cao: Hạ khô thảo 15g, Cúc hoa 9g, Mẫu lệ (sống), Thạch quyết minh (sống), đều 24g, Xuyên khung 3g, Mạn kinh tử 12g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

hạ khô thảo

Mỗi khi có việc hệ trọng hay trước mỗi kỳ thi, có người tinh thần căng thẳng đến mức mất ăn mất ngủ, bồn chồn, ít nói, dễ cáu gắt, váng đầu, trí nhớ giảm sút… Nhất là người quá hiếu thắng, lo lắng về thành tích hoặc đã từng qua kỳ thi, có nhầm lẫn sai sót lại càng dễ rơi vào tình trạng căng thẳng hơn… Hạ khô thảo – vị thuốc Đông y sẽ lấy lại cân bằng cho mọi người.

Cách hỗ trợ trị: Hằng ngày dùng 20g Hạ khô thảo hãm nước uống thay trà, uống liên tục 10 ngày thì người khôi phục bình thường.

© 2014 – 2016, admin. **Lưu ý: Tác dụng có thể thay đổi tùy theo tình trạng cơ địa của mỗi người.

Trong chuyên mục: Dược liệu, Hạ khô thảo

Tham khảo thêm

Chưa có bình luận nào.

Bình luận bài viết

You might also likeclose